Logistics Hải Phòng đang đứng trước thêm dư địa tăng trưởng khi thành phố đẩy nhanh hàng loạt dự án công nghiệp, khu công nghiệp và hạ tầng. Mục tiêu GRDP năm 2026 từ 13% trở lên đang tạo áp lực lớn về tiến độ, nhưng đồng thời cũng thúc đẩy Hải Phòng tháo gỡ những điểm nghẽn về đất đai, giải phóng mặt bằng và thủ tục đầu tư.

Trong 8 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp của Hải Phòng tăng 15,22%. Riêng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,66%, tiếp tục giữ vai trò chủ lực. Thành phố cũng thu hút gần 3,5 tỷ USD vốn FDI, gấp 1,75 lần cùng kỳ năm trước.

Những con số này không chỉ có ý nghĩa với ngành công nghiệp. Khi nhà máy và khu công nghiệp mở rộng, lượng nguyên liệu đầu vào và thành phẩm đầu ra cũng tăng. Đây chính là nguồn hàng trực tiếp của ngành logistics.

Một góc thành phố Hải Phòng. (Ảnh: TTXVN phát)

Công nghiệp Hải Phòng tiếp tục tạo nguồn hàng lớn cho logistics

Sản xuất là một trong những nền tảng quan trọng nhất của logistics.

Một nhà máy mới đi vào hoạt động sẽ cần máy móc và nguyên liệu. Sau đó, quá trình sản xuất tạo ra nhu cầu vận chuyển linh kiện giữa các nhà cung cấp.

Khi thành phẩm hoàn thiện, hàng tiếp tục được đưa tới kho, CFS, cảng biển hoặc khách hàng.

Vì vậy, mỗi dự án công nghiệp mới có thể tạo ra nhiều lớp nhu cầu logistics khác nhau.

Trong 8 tháng năm 2026, Hải Phòng đã thành lập 5 khu công nghiệp và khởi công 8 khu công nghiệp, tổng diện tích hơn 2.000 ha. Tổng vốn đầu tư của nhóm dự án này khoảng 33.500 tỷ đồng. Đồng thời, thành phố đang triển khai 16 dự án hạ tầng khu công nghiệp.

Đây là dư địa rất lớn cho logistics trong những năm tiếp theo.

Hàng chục dự án mới chuẩn bị đi vào hoạt động

Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở số lượng khu công nghiệp.

Đến cuối năm 2026, Hải Phòng dự kiến có thêm hàng chục dự án công nghiệp đi vào hoạt động. Nhóm dự án này được kỳ vọng bổ sung khoảng 7.200 tỷ đồng giá trị sản xuất công nghiệp.

Khi một dự án bước từ giai đoạn xây dựng sang sản xuất, nhu cầu logistics thay đổi rất nhanh.

Ban đầu là máy móc và thiết bị.

Tiếp theo là nguyên liệu.

Sau đó là hàng thành phẩm.

Khi sản lượng tăng, tần suất xe tải và container cũng tăng theo.

Vì vậy, doanh nghiệp logistics cần tiếp cận khách hàng từ trước khi nhà máy vận hành chính thức.

Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)

FDI gần 3,5 tỷ USD tạo thêm chuỗi cung ứng mới

Hải Phòng tiếp tục là một trong những địa phương thu hút FDI đáng chú ý.

Gần 3,5 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài trong 8 tháng cho thấy sức hút của thành phố với các nhà đầu tư quốc tế.

FDI có ý nghĩa đặc biệt với logistics.

Một nhà máy nước ngoài thường không hoạt động độc lập. Phía sau doanh nghiệp là hệ thống công ty mẹ, nhà cung cấp nguyên liệu, linh kiện và khách hàng.

Một phần nguyên liệu có thể được nhập khẩu.

Máy móc có thể đến từ Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc hoặc những thị trường khác.

Sau khi sản xuất tại Hải Phòng, thành phẩm lại được xuất sang nhiều quốc gia.

Do đó, một dự án FDI có thể tạo ra cả một chuỗi logistics.

Hải Phòng có lợi thế đặc biệt nhờ cảng biển

Không phải ngẫu nhiên Hải Phòng trở thành một trung tâm công nghiệp lớn phía Bắc.

Khả năng tiếp cận hệ thống cảng biển tạo ra lợi thế rất lớn.

Nhà máy có thể nhập nguyên liệu và xuất thành phẩm với khoảng cách vận chuyển nội địa ngắn hơn.

Đồng thời, hệ thống cảng còn phục vụ hàng hóa từ nhiều địa phương lân cận.

Điều này khiến logistics Hải Phòng không chỉ phục vụ kinh tế Hải Phòng.

Phạm vi thực tế rộng hơn nhiều, bao gồm cả Hà Nội, Hưng Yên, Bắc Ninh, Ninh Bình, Thanh Hóa và nhiều tỉnh phía Bắc.

Hải Phòng có nhiều chính sách thu hút đầu tư vào các Khu công nghiệp. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)

Ninh Bình là một nguồn hàng quan trọng kết nối Hải Phòng

Đối với logistics Ninh Bình, Hải Phòng là một trong những đầu mối quan trọng của hàng xuất nhập khẩu.

Nhiều doanh nghiệp sản xuất tại Ninh Bình có nguyên liệu nhập khẩu. Sau khi hàng cập cảng, container cần được vận chuyển từ Hải Phòng về nhà máy.

Chiều ngược lại cũng phát sinh thường xuyên.

Thành phẩm từ Ninh Bình được đưa tới Hải Phòng để xuất khẩu.

Như vậy, tuyến Ninh Bình – Hải Phòng có dòng hàng hai chiều.

Khi sản xuất công nghiệp Ninh Bình tiếp tục tăng, nhu cầu trên hành lang này cũng có cơ sở mở rộng.

Cao tốc Ninh Bình – Hải Phòng sẽ tiếp tục tăng khả năng kết nối

Một chi tiết đáng chú ý trong kế hoạch phát triển của Hải Phòng là tiến độ các dự án giao thông kết nối liên vùng.

Tại xã Kiến Hải, địa phương đã bàn giao mặt bằng phục vụ dự án cầu Văn Úc 2 thuộc tuyến cao tốc Ninh Bình – Hải Phòng (CT.08).

Tuyến cao tốc này có ý nghĩa trực tiếp với logistics.

Khi hạ tầng hoàn thiện, thời gian kết nối giữa Ninh Bình và Hải Phòng được cải thiện. Khả năng tiếp cận cảng, khu công nghiệp và trung tâm logistics cũng thuận lợi hơn.

Đây là yếu tố có thể tác động trực tiếp tới vận tải Ninh Bình trong dài hạn.

Hàng từ nhà máy sẽ tiếp cận Hải Phòng nhanh hơn. Ngược lại, nguyên liệu từ cảng cũng có thể về nhà máy thuận lợi hơn.

Thanh Hóa cũng hưởng lợi từ trục kết nối phía Bắc

Không chỉ Ninh Bình, logistics Thanh Hóa cũng có mối liên hệ rất rõ với Hải Phòng.

Thanh Hóa có Nghi Sơn. Tuy nhiên, tùy tuyến tàu, khách hàng và loại hàng, nhiều doanh nghiệp vẫn có nhu cầu kết nối Hải Phòng.

Đặc biệt, hàng xuất khẩu, hàng lẻ CFS và nguyên liệu nhập khẩu có thể phát sinh thường xuyên trên tuyến này.

Hành lang vận tải khi đó có thể được nhìn theo một trục:

Thanh Hóa → Ninh Bình → Hải Phòng.

Ở chiều ngược lại:

Hải Phòng → Ninh Bình → Thanh Hóa.

Nếu doanh nghiệp logistics có khách hàng tại cả hai địa phương, khả năng ghép hàng hai chiều sẽ tốt hơn.

Hai cơ sở của Ascent Group tạo lợi thế trên trục Hải Phòng

Đây là điểm rất phù hợp với mô hình của Ascent Group.

Ascent hiện phát triển hoạt động tại Thanh Hóa và Ninh Bình.

Thay vì nhìn đây là hai thị trường riêng, có thể tổ chức theo một hành lang logistics chung.

Xe từ Thanh Hóa đi Hải Phòng có thể phát sinh điểm lấy hoặc trả hàng tại Ninh Bình.

Xe từ Hải Phòng về có thể trả hàng tại Ninh Bình trước, sau đó tiếp tục về Thanh Hóa.

Khi lượng khách đủ lớn, cách tổ chức này giúp giảm tỷ lệ xe chạy rỗng.

Đồng thời, hai cơ sở có thể hỗ trợ nguồn phương tiện cho nhau khi khách hàng tăng sản lượng.

CFS Hải Phòng tiếp tục có vai trò lớn với hàng xuất khẩu

Không phải nhà máy nào cũng xuất nguyên container.

Nhiều doanh nghiệp may mặc, giày da và hàng công nghiệp sử dụng hình thức hàng lẻ.

Khi đó, hàng phải được đưa tới CFS để gom trước khi xuất khẩu.

Chặng vận tải từ nhà máy đến CFS nhìn có vẻ đơn giản nhưng lại rất nhạy cảm về thời gian.

Hàng thường có cut-off cụ thể.

Nếu xe tới chậm, lô hàng có thể không kịp kế hoạch phía sau.

Vì vậy, với doanh nghiệp tại Thanh Hóa và Ninh Bình, kinh nghiệm vận hành tuyến CFS Hải Phòng tạo ra giá trị thực tế.

Logistics Hải Phòng đang xuất hiện thêm dự án quy mô lớn

Nguồn bài viết còn cho thấy Hải Phòng đang mở rộng không gian logistics trực tiếp.

Tại Kiến Hải, Dự án Tổ hợp logistics thế hệ mới có quy mô khoảng 53,26 ha, tổng vốn hơn 1.800 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, Quy hoạch phân khu Khu thương mại, dịch vụ logistics Kiến Hải có quy mô khoảng 90,85 ha đã được phê duyệt. Địa phương còn đề xuất thêm 6 khu đất để thu hút đầu tư vào thương mại, dịch vụ, logistics, công nghiệp và nhà ở.

Đây là chi tiết rất đáng chú ý.

Hải Phòng không chỉ tăng năng lực cảng.

Không gian dành cho kho bãi, trung chuyển và dịch vụ hậu cần cũng đang tiếp tục được mở rộng.

Trung tâm logistics sẽ thay đổi cách tổ chức dòng hàng

Một trung tâm logistics lớn không đơn giản là một kho hàng.

Đây có thể là nơi gom hàng từ nhiều nhà máy.

Hàng được phân loại, lưu kho hoặc chuyển sang phương tiện khác.

Container có thể được tổ chức trước khi vào cảng.

Các dịch vụ hỗ trợ cũng có thể được đặt gần nhau.

Khi các chức năng này được tập trung, doanh nghiệp giảm được nhiều khâu di chuyển không cần thiết.

Đó là lý do sự phát triển của trung tâm logistics có thể tác động trực tiếp tới hiệu quả chuỗi cung ứng.

Logistics và khu công nghiệp phải phát triển cùng nhau

Nếu khu công nghiệp tăng nhanh nhưng hạ tầng logistics không theo kịp, điểm nghẽn sẽ xuất hiện.

Xe phải chờ lâu.

Kho không đủ.

Đường kết nối quá tải.

Container vào cảng bị ùn.

Chi phí doanh nghiệp khi đó sẽ tăng.

Ngược lại, nếu logistics được quy hoạch cùng công nghiệp, hàng hóa có thể di chuyển hiệu quả hơn.

Việc Hải Phòng đồng thời mở rộng KCN, giao thông và các dự án logistics cho thấy thành phố đang hướng tới mô hình này.

Hải Phòng vẫn phải xử lý nhiều điểm nghẽn

Dù tăng trưởng tích cực, Hải Phòng vẫn còn nhiều áp lực.

Đến ngày 31/8, thành phố còn 12 nhiệm vụ thành phần chậm tiến độ. Giải ngân đầu tư công đạt 55,8% kế hoạch, thấp hơn kịch bản đề ra.

Điều này cho thấy tăng trưởng cao không tự động xuất hiện.

Đất đai, giải phóng mặt bằng và thủ tục đầu tư vẫn có thể làm dự án chậm.

Với ngành logistics cũng vậy.

Một cảng lớn chưa đủ nếu đường kết nối tắc.

Một khu công nghiệp lớn chưa đủ nếu thiếu kho.

Một nhà máy sản xuất tốt cũng chưa đủ nếu hàng không được vận chuyển đúng tiến độ.

Chuỗi chỉ hiệu quả khi các mắt xích cùng hoạt động.

Mục tiêu GRDP 13% tạo áp lực tăng tốc rất lớn

Hải Phòng đặt mục tiêu GRDP năm 2026 tăng 13%.

Trước đó, 6 tháng đầu năm, GRDP thành phố tăng 11,33%, mức cao nhất trong 5 năm nhưng vẫn thấp hơn kịch bản. Vì vậy, áp lực tăng tốc trong nửa cuối năm rất lớn.

Theo kịch bản điều chỉnh, công nghiệp – xây dựng được đặt mục tiêu tăng 15,40%, trong khi dịch vụ tăng 11,21%. Thành phố cũng hướng tới thu hút khoảng 3,8-4,3 tỷ USD FDI trong cả năm.

Nếu các mục tiêu này được hiện thực hóa, nhu cầu logistics sẽ tiếp tục được hỗ trợ bởi cả sản xuất lẫn đầu tư.

Cơ hội lớn nhất của doanh nghiệp logistics nằm ở nhà máy

Đối với doanh nghiệp vận tải, cảng rất quan trọng.

Nhưng nguồn hàng thực sự thường bắt đầu từ nhà máy.

Một nhà máy có nguyên liệu đầu vào.

Có thành phẩm đầu ra.

Có hàng nội địa.

Có hàng xuất khẩu.

Có thể phát sinh container, xe tải thùng kín, CFS, hải quan và vận tải quốc tế.

Vì vậy, nếu doanh nghiệp logistics bám được khách hàng nhà máy, một khách hàng có thể tạo ra nhiều dịch vụ.

Đây là lý do Ascent Group tiếp tục tập trung vào nhóm doanh nghiệp sản xuất tại Thanh Hóa và Ninh Bình.

Hải Phòng trở thành đầu cuối của nhiều chuỗi hàng Ascent

Với Ascent Group, Hải Phòng không nhất thiết phải là thị trường để mở thêm một cơ sở mới.

Quan trọng hơn, Hải Phòng là một đầu cuối chiến lược của dòng hàng.

Khách tại Thanh Hóa cần xuất hàng.

Xe đưa hàng ra Hải Phòng.

Khách tại Ninh Bình nhập linh kiện.

Container từ Hải Phòng được kéo về nhà máy.

Một khách khác cần giao CFS.

Xe thùng kín tiếp tục kết nối.

Như vậy, chỉ cần phát triển đủ sâu khách hàng tại Thanh Hóa và Ninh Bình, lượng hàng kết nối Hải Phòng tự nhiên sẽ tăng.

Vận tải thùng kín và container bổ trợ cho nhau

Hai loại phương tiện phục vụ những nhu cầu khác nhau.

Xe tải thùng kín phù hợp với hàng may mặc, giày da, linh kiện và nhiều loại hàng công nghiệp.

Container phù hợp với dòng hàng xuất nhập khẩu qua cảng.

Một nhà máy có thể sử dụng cả hai.

Nguyên liệu nhập khẩu về bằng container.

Trong quá trình sản xuất, hàng có thể được chuyển kho bằng xe thùng kín.

Thành phẩm xuất khẩu lại đi container hoặc CFS.

Nếu doanh nghiệp logistics cung cấp được nhiều mắt xích, giá trị trên một khách hàng sẽ cao hơn.

Điều phối hai cơ sở giúp tăng khả năng đáp ứng

Một lợi thế khác của Ascent Group là khả năng tổ chức nguồn xe giữa Thanh Hóa và Ninh Bình.

Ví dụ, một khách hàng Ninh Bình bất ngờ tăng số chuyến.

Nếu nguồn xe tại chỗ thiếu, phương tiện từ Thanh Hóa có thể hỗ trợ khi phù hợp.

Chiều ngược lại cũng tương tự.

Điều này đặc biệt có giá trị với khách hàng nhà máy vì kế hoạch xuất hàng có thể thay đổi rất nhanh.

Khả năng đáp ứng trong thời điểm phát sinh mới là lúc năng lực điều hành được thể hiện rõ nhất.

Logistics Hải Phòng càng phát triển, doanh nghiệp vệ tinh càng có cơ hội

Một trung tâm logistics lớn không thể tự vận hành toàn bộ chuỗi.

Phía sau cảng vẫn cần mạng lưới vận tải kết nối nhà máy.

Kho cần xe đưa hàng vào và lấy hàng ra.

CFS cần phương tiện gom hàng từ nhiều địa phương.

Nhà máy cần container đưa nguyên liệu về.

Do đó, khi logistics Hải Phòng mở rộng, cơ hội không chỉ dành cho những doanh nghiệp đặt trụ sở tại Hải Phòng.

Các doanh nghiệp logistics tại Ninh Bình và Thanh Hóa cũng có thể hưởng lợi nếu kiểm soát tốt nguồn khách hàng và tuyến kết nối.

Kết luận

Logistics Hải Phòng đang có thêm dư địa khi thành phố đẩy mạnh công nghiệp, FDI, khu công nghiệp và hạ tầng logistics. Trong 8 tháng năm 2026, IIP tăng 15,22%, FDI đạt gần 3,5 tỷ USD. Đồng thời, 5 khu công nghiệp được thành lập và 8 khu công nghiệp được khởi công với tổng diện tích hơn 2.000 ha.

Đáng chú ý, Tổ hợp logistics thế hệ mới tại Kiến Hải có quy mô khoảng 53,26 ha, vốn hơn 1.800 tỷ đồng. Khu thương mại, dịch vụ logistics Kiến Hải quy mô khoảng 90,85 ha cũng đã được phê duyệt quy hoạch phân khu.

Đối với logistics Ninh Bình, sự phát triển của Hải Phòng mở rộng cơ hội trên tuyến Ninh Bình – Hải Phòng, đặc biệt khi cao tốc CT.08 tiếp tục được triển khai.

Đối với logistics Thanh Hóa, Hải Phòng tiếp tục là cửa ngõ quan trọng cho nhiều dòng hàng xuất nhập khẩu, hàng CFS và container.

Với Ascent Group, hai cơ sở Thanh Hóa và Ninh Bình có thể được tổ chức như một mạng lưới trên cùng hành lang vận tải, thay vì hai điểm hoạt động độc lập.

Hải Phòng càng tăng năng lực công nghiệp và logistics, dòng hàng kết nối với Ninh Bình và Thanh Hóa càng có cơ sở mở rộng. Cơ hội của doanh nghiệp logistics nằm ở việc bám được nhà máy, kiểm soát tốt hai chiều hàng và biến từng tuyến vận tải thành một phần của chuỗi cung ứng hoàn chỉnh.